Khoa Học News

So sánh hàm lượng dinh dưỡng của trứng gà, trứng vịt, trứng cút... loại nào bổ dưỡng nhất?

Mọi người đều biết rằng trứng là loại thực phẩm rất giàu dinh dưỡng và có cách chế biến đa dạng.

Trong cuộc sống, chúng ta thường bắt gặp nhiều nhất là các loại trứng gà, trứng vịt, trứng ngỗng, trứng cút, trứng chim bồ câu. Từ các loại cơ bản này cũng sinh ra vô số phiên bản chế biến khác nhau như trứng lộn, trứng muối, trứng nướng... đều là những món ngon tuyệt.

Nhưng, đi sâu về bản chất dinh dưỡng, thì sự khác nhau giữa các loại trứng này là gì?


Không có sự khác biệt nhiều giữa các loại trứng gia cầm.

Protein

Qua so sánh, các nghiên cứu về cơ bản cho thấy không có sự khác biệt nhiều giữa các loại trứng gia cầm, với hàm lượng protein chứa bên trong hầu hết ở mức 13g/100g. Loại có hàm lượng protein thấp nhất là trứng gà, với giá trị là 12g/100g; loại có hàm lượng protein cao nhất là trứng chim bồ câu, nhưng cũng chỉ khoảng 14g/100g.

Do đó, có rất ít sự khác biệt về dinh dưỡng giữa các sản phẩm trứng khác nhau, vì vậy người tiêu dùng không cần phải theo đuổi tiêu chí này quá mức chặt chẽ.

Chất béo

Hàm lượng chất béo trong các loại trứng khác nhau có sự chênh lệch, nhưng không quá đáng kể. Cụ thể, hàm lượng chất béo trong trứng vịt là nhiều nhất (14 g/100 g) và trứng gà ít chất béo nhất (8,8 g/100 g).

Vitamin


So với các loại trứng khác thì trứng gà có nhiều vitamin D nhất.

Bằng cách so sánh một số sản phẩm trứng, người ta nhận thấy rằng có thể có sự khác biệt lớn về hàm lượng của một số loại vitamin nhất định.

Về vitamin D, trứng gà chứa nhiều nhất với hơn 80 đơn vị IU, cao hơn gần 30% so với các sản phẩm trứng khác.

Nhưng so sánh vitamin B12, thì lượng vitamin B12 chứa trong trứng vịt và trứng ngỗng lại cao hơn một chút.

Ngoài ra, vitamin A, vitamin E và vitamin K không có sự khác nhau nhiều trong các sản phẩm trứng.

Về tổng thể, lượng trứng và các sản phẩm từ trứng được tiêu thụ trung bình trong một ngày khá hạn chế, do đó bản thân chúng không phải là nguồn thực phẩm giàu vitamin được khuyên dùng.

Khoáng chất vi lượng


Liều lượng chất dinh dưỡng có trong các sản phẩm trứng khác nhau có rất ít sự khác biệt.

Nhiều người quan tâm đến hàm lượng sắt có trong trứng gà, nhưng thực tế lượng sắt trong trứng gà rất ít (1,8 mg/ 100 g), các loại trứng khác cũng tương tự.

Nhưng đối với canxi, hàm lượng canxi trong một số sản phẩm trứng vào khoảng 60 mg/100 g, cho thấy tác dụng bổ sung khá lớn.

Riêng kẽm, trừ trứng gà tây có hàm lượng cao hơn, các loại trứng khác hầu như đều giống nhau ở mức thấp, khoảng 1,3-1,6%.

Tóm lại, liều lượng của các chất dinh dưỡng có trong các sản phẩm trứng khác nhau có rất ít sự khác biệt. Dù đó là trứng gà, trứng vịt, trứng ngỗng, hay trứng chim cút, trứng chim bồ câu, thậm chí cả trứng đà điểu. Chúng không có sự khác biệt quá lớn về hàm lượng các loại chất dinh dưỡng.

Những tin đồn trên Internet


 Trên thực tế, giá cả của các loại trứng không liên quan gì đến giá trị dinh dưỡng.

Nhiều tuyên bố trên mạng nói rằng: "ăn trứng gà có thể chữa bệnh cao huyết áp", "ăn trứng cút có thể ngăn ngừa bệnh hen suyễn", hay "trứng ngỗng có thể xóa tàn nhang"... tất cả đều là các thông tin không đáng tin cậy.

Nhưng tại sao một số loại trứng lại được bán đắt hơn? Trên thực tế, giá cả của các loại trứng không liên quan gì đến giá trị dinh dưỡng, mà do chi phí chăn nuôi những loại gia cầm này quá cao, hoặc chúng có sản lượng thấp.

Các nhóm người khác nhau nên ăn trứng như thế nào?


Đối với những người khỏe mạnh nên ăn trung bình 1 quả trứng (khoảng 50 gam) mỗi ngày.

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, người bình thường nên ăn trứng điều độ, còn một số nhóm đặc biệt có thể ăn nhiều trứng hơn.

Ví dụ, đối với những người khỏe mạnh, trên cơ sở đảm bảo cung cấp đủ lượng protein chất lượng cao từ thịt và sữa, nên ăn trung bình 1 quả trứng (khoảng 50 gam) mỗi ngày, hoặc các loại trứng khác có trọng lượng tương đương.

Còn với bà mẹ mang thai, cho con bú, người đang muốn tạo dựng cơ bắp, người vận động nhiều hàng ngày, trẻ em độ tuổi đi học (thanh thiếu niên) đang lớn và phát triển, trên cơ sở không có vấn đề về lipid máu và huyết áp, lượng trứng có thể được tăng lên một cách thích hợp. Lượng tiêu thụ có thể từ 2 tới 3 quả mỗi ngày.

Cần chú ý những điểm gì khi ăn trứng?


Lòng đỏ chứa nhiều dinh dưỡng hơn lòng trắng.

Điều quan trọng nhất là cần chú ý đến lòng đỏ trứng và cố gắng ăn cả quả trứng.

Một số người lo lắng về lượng cholesterol có trong lòng đỏ trứng, nhưng không có bằng chứng nào cho thấy "ăn nhiều cholesterol sẽ gây hại cho cơ thể". Các hướng dẫn về chế độ ăn uống ở nhiều quốc gia đã hủy bỏ cái gọi là "giới hạn cholesterol" trong khẩu phần ăn hàng ngày.

Với trứng gà, lòng đỏ tốt hơn lòng trắng, vì chứa các chất dinh dưỡng như lecithin, vitamin và khoáng chất canxi, sắt và kẽm... bao gồm cả hàm lượng lẫn tỷ lệ hấp thụ. Lòng trắng, dù có màu trắng, trên thực tế lại không nhiều canxi như mọi người vẫn lầm tưởng.

Những loại trứng nên hạn chế, ăn càng ít càng tốt

Trứng để qua đêm

Dù là loại trứng nào cũng không nên ăn sau khi để qua đêm, vì bản thân trứng là thực phẩm giàu protein. Nếu để quá lâu, một số vi khuẩn sẽ xâm nhập vào trứng và sinh sôi, vi trùng và các chất có hại cũng được sản sinh ra. Khi đó, người sử dụng rất dễ bị ngộ độc thực phẩm, không còn đảm bảo an toàn sức khỏe.

Trứng bắc thảo


Phụ nữ có thai, người già và trẻ em có tỳ dạ dày yếu thì không nên ăn trứng bắc thảo.

Trứng bắc thảo là món ăn ngon, mát, khá nổi tiếng ở Trung Quốc trong mùa hè dù chúng gây ảnh hưởng đến hấp thu, tiêu hóa thức ăn trong cơ thể nếu ăn nhiều. Vì thế, phụ nữ có thai, người già và trẻ em có tỳ dạ dày yếu thì không nên ăn.

Ngoài ra, rất khó phân biệt trứng bắc thảo trên thị trường được ngâm từ hóa chất công nghiệp hay thực phẩm. Nếu là hóa chất công nghiệp, những chất độc hại này sẽ ngấm vào trứng, tích tụ vào cơ thể khiến lượng kim loại nặng vượt ngưỡng, từ đó gây tổn thương cho gan, đặc biệt là những người bệnh thiếu gene càng dễ bị trúng độc.

Theo các chuyên gia, cách duy nhất để kiểm chứng trứng bắc thảo độc hay không là phải kiểm tra đầu vào, giám sát quá trình chế biến.

TIN CŨ HƠN
Lợi ích của quả lặc lè mà bạn không ngờ tới

Lợi ích của quả lặc lè mà bạn không ngờ tới

Quả lặc lè (hay còn được gọi là lặc lày, mướp rừng, mướp Mường, bầu rắn) là một siêu thực phẩm rất dễ ăn trong những mùa nóng nực.

Đăng ngày: 07/06/2026
Các loại hạt có lợi ích sức khỏe vi diệu nên bổ sung trong ngày Tết

Các loại hạt có lợi ích sức khỏe vi diệu nên bổ sung trong ngày Tết

Tết này thay vì ăn nhiều bánh kẹo, bạn nên tích cực thưởng thức những loại hạt rất tốt cho sức khỏe để tránh bị tăng cân, mệt mỏi.

Đăng ngày: 06/06/2026
Những bệnh về da dễ mắc trong nắng nóng mùa hè

Những bệnh về da dễ mắc trong nắng nóng mùa hè

Bác sĩ Trình Ngô Bỉnh, Khoa Da liễu Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park TP HCM, đúc kết 8 bệnh da thường gặp trong thời tiết nắng nóng mùa hè và cách phòng tránh, xử lý.

Đăng ngày: 03/06/2026
Gai cột sống - bệnh nguy hiểm song khó phát hiện sớm

Gai cột sống - bệnh nguy hiểm song khó phát hiện sớm

Bác sĩ Randell DuPraw, chuyên gia nắn chỉnh thần kinh cột sống tại Maple Healthcare, giải thích gai cột sống là những mảng xương thừa mọc ra dọc theo rìa các đốt xương sống.

Đăng ngày: 01/06/2026
Lá bìm bìm làm thuốc

Lá bìm bìm làm thuốc

Bìm bìm được dùng phổ biến theo kinh nghiệm dân gian để làm thuốc lợi tiểu chữa phù thũng, đái dắt. Bìm bìm là loại dây leo. Lá mọc so le, chia 5 thùy. Hoa mầu trắng hay lam tím. Quả nang.

Đăng ngày: 30/05/2026
Nam giới và nữ giới ai chịu đau tốt hơn?

Nam giới và nữ giới ai chịu đau tốt hơn?

Nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc ĐH Malaga chỉ ra, khả năng chịu đau ở nam giới và nữ giới là tương tự nhau.

Đăng ngày: 30/05/2026
Chữa trị ung thư: Đã có nhiều kỹ thuật mới

Chữa trị ung thư: Đã có nhiều kỹ thuật mới

Hàng năm, trên thế giới có khoảng 10 triệu ca ung thư mới mắc và khoảng 6 triệu người chết do ung thư. Tuy nhiên, hiện nay, đã có khá nhiều lọai bệnh ung thư có thể phòng ngừa và điều trị nhờ sự tiến bộ không ngừng của khoa học. GS Nguyễn Chấn Hùng, Giám đốc

Đăng ngày: 29/05/2026
Khoa Học News