Những nhiệm vụ quan trọng nhất trong lịch sử NASA (Phần 1)

Kể từ khi Cơ quan Hàng không và Vũ trụ quốc gia Mỹ (NASA) được thành lập cách đây hơn nửa thế kỷ, họ đã thực hiện hàng trăm nhiệm vụ trong không gian, từ việc đẩy các thiết bị thăm dò vào vũ trụ và tiếp cận vào các hành tinh phía ngoài của Hệ Mặt trời, tới việc gửi các tàu viên nang có người lái vào không gian...

Một số tiến bộ quan trọng nhất trong khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học đã được thực hiện như một kết quả trực tiếp của các nhiệm vụ này. Có thể kể đến một số nhiệm vụ quan trọng và thú vị và nhất mà NASA từng thực hiện như dưới đây.

Vệ tinh WMAP

Bạn có biết rằng, nhân loại có một bức tranh của vũ trụ thuở ban sơ? Thực ra, chúng ta không thể có được bất kỳ hình ảnh nào từ thời điểm Vụ nổ lớn Big Bang. Trong vài trăm nghìn năm đầu tiên của cuộc đời vũ trụ, mọi thứ quá nóng và quá gần nhau, khiến các photon không thể đi tới bất cứ đâu. Theo bất kỳ hướng nào đi nữa, người ta cũng chỉ có thể thấy được một vài năm ánh sáng, cho đến khi những đám mây hydro khổng lồ lấp đầy vũ trụ, khiến càng không thể nhìn xa hơn được.


Vệ tinh này được phóng vào ngày 30/6/2001.

Tuy nhiên, sau khoảng 380.000 năm, mọi thứ nguội đi và tỏa rộng ra. Ánh sáng đầu tiên đã có thể thoát ra được. Ánh sáng này từ thuở ban sơ của vũ trụ đi về Trái đất từ mọi hướng trên bầu trời. Nó cho chúng ta thấy vũ trụ ở những giai đoạn sớm nhất của nó và được gọi là bức xạ nền vi sóng vũ trụ, hay bức xạ tàn dư vũ trụ (CMB). Nói cách khác, đây là loại bức xạ sinh ra từ thời sơ khai của vũ trụ, phổ của nó có dạng giống phổ bức xạ của vật chất đen, với đỉnh nằm trong dải bước sóng vi sóng (trong khoảng từ vài mm đến vài chục cm). Hầu hết, các nhà vũ trụ học cho rằng bức xạ phông nền vũ trụ cùng với sự dịch chuyển đỏ là những bằng chứng tốt nhất chứng minh cho sự đúng đắn của mô hình Vụ nổ lớn của vũ trụ.

Kể từ khi phát hiện ra điều này, các nhà khoa học đã muốn vạch ra các điểm nóng và lạnh của CMB để xem chúng có phù hợp với dự đoán của các chuyên gia hay không. Dữ liệu đó không tồn tại cho đến vài thập kỷ trước. Thậm chí sau đó, nó vẫn chưa được đưa ra, cho đến khi vệ tinh vi sóng dị hướng Wilkinson của NASA (WMAP) chứng minh rằng, các nhà khoa học đã có một hình ảnh HD khá tốt về bức xạ. Các kết quả từ các thăm dò phù hợp với dự đoán và xác nhận rằng vũ trụ gần như hoàn toàn đồng đều về nhiệt độ ở thời điểm hơn 14 tỷ năm trước. Thật tuyệt vời khi chúng ta thu thập được những thông tin về một thứ đã tồn tại từ lâu.

Vệ tinh này được phóng vào ngày 30/6/2001. Tháng 4/2002, WMAP đã hoàn thành quan sát đầu tiên về CMB. Vào tháng 2/2003, những hình ảnh có độ phân giải cao đầu tiên của CMB và các bài báo phân tích kết quả đã được công bố. Các tài liệu nghiên cứu của WMAP là một trong những tài liệu được sử dụng và được trích dẫn nhiều nhất trong lịch sử khoa học vũ trụ.

Thông tin duy nhất về chuyển khoản được ghi lại là thời điểm mà giao dịch diễn ra. Trong thực tế, chỉ có khoảng 10% giao dịch trên Zcash sử dụng lựa chọn “ẩn”, bởi với lựa chọn này, cần có thêm thời gian và năng lượng máy tính để xử lý các tính toán cần thiết.

Tàu Viking I và II

Trước năm 1976, Mỹ chưa bao giờ thành công trong việc tiến hành một cuộc thăm dò trên một hành tinh khác. Các dự án tương tự cũng thường thất bại, trong khi các bộ máy trị giá hàng triệu USD được gửi đến “hành tinh Đỏ” đều có xu hướng bị va đập vào bề mặt các hành tinh trong quá trình chu du trong vũ trụ với vận tốc hàng ngàn dặm một giờ.


Tên lửa Titan IIIE/Centaur đã triển khai hai tàu thăm dò Viking và gửi chúng đến các quỹ đạo khác nhau.

Việc đưa một vật thể lên quỹ đạo để quay quanh Trái đất đã vô cùng khó khăn, nhưng việc khiến một con tàu vũ trụ rời khỏi quỹ đạo Trái đất, đi vào quỹ đạo xung quanh một thiên thể khác, và sau đó hạ cánh thành công trên hành tinh đó mới là một thách thức vô cùng lớn. Tuy nhiên, kỳ tích kỹ thuật này đã được thực hiện bởi các tàu thăm dò Viking.

Trong vòng 1 tháng, tên lửa Titan IIIE/Centaur đã triển khai hai tàu thăm dò và gửi chúng đến các quỹ đạo khác nhau. Một phần của con tàu thăm dò được để lại trên quỹ đạo xung quanh sao Hỏa, và một phần khác hạ cánh trên bề mặt hành tinh này.

Dựa trên những gì quan sát được từ Trái đất, các nhà khoa học nghĩ rằng cuộc sống không thể tồn tại trên sao Hỏa. Tuy nhiên, con người chưa bao giờ đến đó để khẳng định những giả thuyết này. Vấn đề này đã được chứng minh ngay khi các đầu dò Viking gửi lại những hình ảnh đầu tiên và kết quả thử nghiệm cho NASA. Các tàu thăm dò không tìm thấy bằng chứng về những “người sao Hỏa” màu xanh lá cây, hay bất kỳ cuộc sống vi sinh vật nào.

Tàu Hữu nghị 7

Tính đến đầu năm 1962, Mỹ chỉ có hơn 30 phút kinh nghiệm trong không gian, trong khi đồng hồ đếm ngược đến cuối thập niên này đã đánh dấu. Mỹ chưa bao giờ gửi được người vào quỹ đạo Trái đất - một phần cực kỳ quan trọng trong việc đưa người lên Mặt trăng và đánh bại Liên Xô. Tất cả đã thay đổi với sự ra mắt của Friendship 7, phi vụ thứ ba của tàu Mercury Mỹ.


Trung tá John Glenn - người được chọn để điều khiển tên lửa Atlas mới vào quỹ đạo quanh Trái đất.

Trung tá John Glenn, một phi công thử nghiệm quân sự, được chọn để điều khiển tên lửa Atlas mới vào quỹ đạo quanh Trái đất. Tên lửa này cất cánh vào ngày 20/2/1962, xâm nhập thành công quỹ đạo Trái đất trong gần năm giờ. Ông đã hạ cánh an toàn khoảng 1.300km về phía Nam của Bermuda.

Mục tiêu của nhiệm vụ là thử nghiệm tên lửa mới, học cách quay quanh Trái đất, và chứng minh rằng con người có thể tồn tại và hoạt động trong không gian.

Mercury Seven là nhóm bảy phi hành gia của Mercury được NASA công bố vào ngày 9/4/1959. Họ cũng được gọi là Nhóm Bảy hoặc Nhóm du hành vũ trụ nguyên thủy 1 có nhiệm vụ thí điểm các không gian có người lái của chương trình Mercury từ tháng 5/1961 đến tháng 5/1963. Bảy phi hành gia gốc Mỹ này là Scott Carpenter, Gordon Cooper, John Glenn, Gus Grissom, Wally Schirra, Alan Shepard và Deke Slayton.

Các thành viên của nhóm đã thực hành bay trên tất cả các tàu vũ trụ có người lái của NASA trong thế kỷ 20 - Mercury, Gemini, Apollo và tàu con thoi Space. Gus Grissom mất năm 1967, trong vụ hỏa hoạn Apollo 1. John Glenn tiếp tục trở thành Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ và bay trên tàu con thoi 36 năm, sau đó để trở thành người già nhất bay trong không gian. Ông qua đời vào năm 2016, ở tuổi 95.

(Còn tiếp)

Tin nổi bật

Tin cùng chuyên mục

Tin mới nhất