Những chuyện chưa biết về bàn chải và kem đánh răng
Việc sử dụng bàn chải đánh răng và kem đánh răng để vệ sinh răng miệng được con người làm hàng ngày. Nhưng lịch sử phát minh ra chúng thì không phải ai cũng biết. Hãy cùng tìm hiểu về tiểu sử đầy thú vị về bàn chải và kem đánh răng qua bài viết sau.

Bàn chải đánh răng ra đời như thế nào?
Nhiều khoa học gia đã ví miệng con người như một sở thú, trong đó chen chúc cả vài trăm loại vi sinh vật lành dữ khác nhau, đặc biệt là ở phần sau của lưỡi.
Các vi sinh vật này sống nhờ thực phẩm mà ta tiêu thụ còn sót lại ở răng miệng. Chúng tác động lên thực phẩm, tạo ra vài loại acid và mùi hôi. Acid ăn mòn men răng, đưa tới sâu răng, rụng răng. Mùi sulfur làm miệng có mùi khó chịu khi nói, khi thở, khi “mi” nhau.
Bàn chải và kem đánh răng tác động với nhau giúp cho răng trắng sạch và loại bỏ các vi sinh vật có hại nằm trong miệng. Từ xa xưa, loài người đã ý thức được ảnh hưởng xấu của thực phẩm còn kẹt lại ở răng miệng sau mỗi bữa ăn.

Vì thế, sau khi ăn, người châu Á cũng như châu Âu, châu Phi đã vừa rửa tay, rửa mặt vừa súc miệng. Với một ngụm nước đầy, họ vận dụng mấy thớ thịt ở má làm cho nước nổi sóng, lách qua lách lại khe răng, loại hết thức ăn dính nơi đây. Dùng ngón tay trỏ, người ta chà tới chà lui hàm răng. Nhiều khi các cụ dùng khăn mặt hoặc một miếng vải nhỏ để lau răng.
Trung Hoa được coi như nơi khai sinh của bàn chải đánh răng đầu tiên trên trái đất, được làm với lông bờm ngựa gắn trên một cái cán bằng tre hoặc xương thú vật. Đó là vào khoảng năm 1498.
Tại Ấn Độ, từ xa xưa họ sử dụng cành của cây Neem hay cây Đa, cắn cho một đầu mềm ra rồi sau đó dùng chùi răng. Người Hồi Giáo vệ sinh răng miệng bằng cách nhai rễ hoặc cành của cây Arak, một loại cây có chứa chất sát trùng tự nhiên.
Năm 1780, một công dân người Anh, ông William Addis thấy chà răng bằng miếng vải tẩm muối bất tiện. Ông ta bèn làm bàn chải bằng cách dùi nhiều lỗ nhỏ trên một miếng xương súc vật rồi luồn vào đó nhiều sợi lông đuôi bò cứng ngắn, cắt cho bằng để chải răng. Hiện nay hậu duệ của ông có cơ sở sản xuất bàn chải răng rất lớn.
Đến năm 1857, bằng sáng chế bàn chải đánh răng đầu tiên tại Mỹ được cấp cho ông H.N. Wadsworth. Thiết kế nâng cao hơn có tay cầm làm bằng xương với những cái lỗ được khoan và gắn vào lông lợn lòi Xi-Bia. Lông lợn lòi không phải là một vật liệu quá lí tưởng, nó giữ lại vi khuẩn, nó không được khô cho lắm, lông thường tuột khỏi bàn chải. Nó không được sử dụng cho đến Chiến tranh thế giới thứ II, tuy thế, khái niệm về việc đánh răng lại thực sự được nắm bắt ở Mĩ, bởi vì nó dường như đã trở thành một phần trách nhiệm của người lính Mĩ để vệ sinh răng của họ. Nó là một bài thực hành mà họ đa mang trở về nhà sau khi chiến tranh kết thúc.

Bức ảnh năm 1899 chỉ cách sử dụng bàn chải.
Năm 1938, Công ty Dupont dùng sợi nilon làm bàn chải thay thế cho lông súc vật. Lý do là lông thú vật ngày một khan hiếm đồng thời nhiều người sợ nhiễm trùng mất vệ sinh. Tuy nhiên lông heo rừng vẫn còn được nhiều người ưa thích vì là vật hiếm và thiên nhiên.
Đến năm 1939, Thụy Sĩ bắt đầu sản xuất bàn chải đánh răng chạy bằng điện.
Tại Hoa Kỳ, bàn chải đánh răng điện Broxodent được Công ty dược phẩm Squibb giới thiệu trong Đại hội kỷ niệm 100 năm thành lập của Hội Nha khoa Hoa Kỳ vào năm 1960.
Năm 1961, Công ty General Electric tung ra thị trường bàn chải điện không dây. Tiến bộ hơn nữa là bàn chải xoay tròn Interplak được bán cho công chúng vào năm 1987. Bàn chải điện rất tiện lợi cho người có khó khăn vận dụng hai bàn tay, chẳng hạn bị viêm xương khớp, hậu quả tai biến não.
Năm 2003, một cuộc thăm dò dư luận cho hay bàn chải đánh răng được coi là nhu yếu phẩm số một trong đời sống mọi người, phổ thông hơn xe hơi, máy vi tính, điện thoại di động.

Ngày nay, bàn chải đánh răng được sản xuất với nhiều hình dáng, kích thước, màu sắc khác nhau, nhưng căn bản vẫn là cán với bàn chải bằng sợi nhựa tổng hợp. Sợi nhựa có thể cứng, mềm, đầu bàn chải thẳng hoặc hơi cong để có thể làm việc ở các vùng sâu xa của răng miệng.
Các nhà chuyên môn đều đồng ý là bất cứ bàn chải mềm nào cũng công hiệu nếu dùng đúng cách.
Nhiều nghiên cứu khoa học đều kết luận rằng, dùng bàn chải đánh răng hợp lý, đúng phương pháp có thể phòng tránh được sâu răng, viêm nướu răng và xương hàm. Đây là 1/3 trong số những nguyên nhân gây rụng răng ở người trưởng thành.
Đánh răng thường thường chỉ loại bỏ được 70-80% chất bẩn trên răng, phần còn lại phải nhờ tới chỉ nha khoa. Chỉ tơ thay thế cho việc dùng tăm cổ truyền mà đôi khi dùng không đúng cách có thể gây tác dụng xấu cho nướu răng. Chỉ tơ được bán từng cuộn hoặc sợi ngắn gắn trên một khung nhựa nhỏ. Chỉ có đường kính lớn nhỏ khác nhau tùy theo nhu cầu. Đôi khi nhà sản xuất tẩm vào chỉ chất kháng sinh, fluoride, chất gây thơm.
Kem đánh răng
Theo các nhà khảo cổ, kem đánh răng đã được dùng ở Ấn Độ và Trung Hoa từ 500 năm trước Công nguyên. Trước kia người xưa tán vụn xương động vật, vỏ trứng, vỏ hến để chà răng. Rồi bột đánh răng được sản xuất từ cỏ cây, than với vài chất có mùi thơm.

Mãi tới năm 1824, một nha sĩ tên là Peabody nghĩ ra việc cho thêm xà phòng vào kem đánh răng để có nhiều bọt. Ngày nay, xà phòng được thay thế bằng chất Sodium Lauryl Sulfate, và Sodium Ricinoleate.
Năm 1850, John Harris thêm đá vôi vào kem.
Năm 1892, bác sĩ Washington Sheffield ở Connecticut, nghĩ ra việc cho kem đánh răng vào một ống có thể gấp gọn vào được. Trước đó, kem được chứa trong lọ sứ, dưới dạng nhão, bột hoặc đóng thành từng cục dẹt nhỏ tròn tròn bọc trong giấy bóng kính nom rất đẹp mắt.
Đến thập niên 1960, hãng Colgate bắt đầu pha fluoride vào kem để duy trì men răng tốt.

Mỗi nhà sản xuất có công thức riêng cho sản phẩm của mình, nhưng nói chung kem đều có các hoạt chất với tác dụng chính như sau:
Fluoride: Có lẽ fluoride là chất quan trọng hơn cả vì nó hòa nhập vào men răng, giúp men chống cự tác dụng xói mòn của chất chua trong thực phẩm cũng như do các vi khuẩn sinh ra.
Chất mài cọ (abrasives) vết màu và mảnh vôi bám trên răng, giúp răng sạch bóng hơn. Đó là các chất calcium phosphate, calcium carbonate và silica. Hàm lượng các chất này không được quá nhiều để tránh men răng bị mòn quá mức.
Chất tẩy (detergent) như sodium lauryl sulfate làm kem có bọt, giữ kem trong miệng và không chảy ra khỏi bàn chải. Chất này cũng có thể gây lở miệng ở một số người nhạy cảm với hóa chất.
Laser cũng được thử nghiệm để loại trừ vi khuẩn ẩn náu ở chân răng. Kết quả nghiên cứu của bác sĩ Ulrich Schoop, Đại học Nha khoa Vienna, công bố trên tạp chí của Hội Nha khoa Hoa Kỳ, số tháng 7 năm 2007, cho hay một loại laser đặc biệt có thể tiêu diệt các vi khuẩn E.coli và E.faecalis. Ông đề nghị dùng laser để khử trùng và làm sạch chân răng.
Chăm sóc hàm răng khỏe mạnh để tiêu hóa thực phẩm, trắng bóng để có nụ cười tươi sáng, nguyên vẹn là cả một nghệ thuật. Vì “cái răng cái tóc là góc con người”, vừa về phương diện thẩm mỹ, đối thoại lẫn dinh dưỡng.
14 lợi ích tuyệt vời của quả vải đối với sức khỏe và sắc đẹp
Không chỉ có hương vị thơm ngon, quả vải còn chứa nhiều vitamin và chất chống oxy hóa giúp phòng ngừa ung thư, hỗ trợ sức khỏe tim mạch, làm chậm quá trình lão thị, giúp da mịn màng và mái tóc óng ả.
Các loại hạt có lợi ích sức khỏe vi diệu nên bổ sung trong ngày Tết
Tết này thay vì ăn nhiều bánh kẹo, bạn nên tích cực thưởng thức những loại hạt rất tốt cho sức khỏe để tránh bị tăng cân, mệt mỏi.
Những bệnh về da dễ mắc trong nắng nóng mùa hè
Bác sĩ Trình Ngô Bỉnh, Khoa Da liễu Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park TP HCM, đúc kết 8 bệnh da thường gặp trong thời tiết nắng nóng mùa hè và cách phòng tránh, xử lý.
Gai cột sống - bệnh nguy hiểm song khó phát hiện sớm
Bác sĩ Randell DuPraw, chuyên gia nắn chỉnh thần kinh cột sống tại Maple Healthcare, giải thích gai cột sống là những mảng xương thừa mọc ra dọc theo rìa các đốt xương sống.
Những lý do nên dùng cà chua
Cà chua thường xuyên xuất hiện trong căn bếp của mọi nhà và được dùng để chế biến rất nhiều món ăn. Nhưng lợi ích, tác dụng tuyệt vời của loại quả này cũng như cách ăn nó sao cho tốt nhất thì không phải ai cũng biết.
Tìm hiểu triệu chứng và cách chữa ngón tay gãy bút chì
Ngón tay bị gãy bút chì là do chấn thương ở khớp giữa ngón tay, nơi có thể gập cong. Khớp này gọi được là khớp nối liên vị gần (PIP).

