Khoa Học News

Protein của rắn tiến hóa nhằm thích nghi

Trước khi những hệ thống dữ liệu cỡ lớn hình thành, người ta cho rằng quá trình biến đổi và phân tách hình thái cũng như sinh lý có thể dễ dàng được giải thích ở cấp độ phân tử. Tuy nhiên những biến đổi thích nghi về sinh lý lại nhận được rất ít lời giải đáp cho đến nay.

Trong một nghiên cứu xuất bản trên tờ PLoS ONE thứ 4 ngày 21 tháng 5, Pollock và cộng sự đã mang đến một bằng chứng về những biến đổi tiến hóa vĩ mô ở loài rắn (thích nghi về trao đổi chất, các chức năng sinh lý hay quá trình tiến hóa của nọc độc): quá trình đó xảy ra song song với quá trình tái thiết chức năng trên quy mô lớn của các phân tử protein chuyển hóa giữ vai trò trung tâm.

Tiến sĩ David Pollock kiêm giáo sư Di truyền học phân tử và hóa sinh học tại đại học Y Colorado Denver cho biết: “Kết quả tiến hóa ở cấp độ phân tử rất đáng kể. Nó dành quyền ưu tiên bậc nhất cho quá trình tái thiết protein nhằm thích nghi. Điều này trình bày sự kiện tiến hóa protein bùng nổ ấn tượng nhất ở một phân tử protein được bảo tồn mà tôi được biết”.

Trong mười năm qua, các khoa học gia đã cho thấy loài rắn có những khả năng đặc biệt: chúng có thể điều hòa sự phát triển tim và hệ tiêu hóa. Chúng có thể tồn tại trong điều kiện hệ thống trao đổi chất biến đổi tột bậc trong số các động vật có xương sống. Do đó loài rắn trở thành mô hình lý tưởng để nghiên cứu sự phát triển các cơ quan cũng như sự điều hòa trao đổi chất và sinh lý.

(Ảnh: dreamstime.com)

Lý do khiến loài rắn trở nên đặc biệt trước đây chưa từng được biết đến ở cấp độ phân tử. Trong nghiên cứu này, Pollock và cộng sự cùng các nhà nghiên cứu đã chứng minh protein phosphorylation ôxi hóa mã hóa mitochondria trong rắn phải trải qua một quá trình tái thiết đặc biệt. Điều này có thể giải thích tại sao rắn lại có những chức năng sinh lý và quá trình chuyển hóa có một không hai.

Axit amono thường không tập trung nhiều ở những protein bị biến đổi nói trên làm ảnh hưởng đến các chức năng phân tử chủ chốt như quá trình chuyển proton (tạo nên gradient mật độ proton điều khiển quá trình sản xuất năng lượng trong tế bào). Bên cạnh việc thúc đẩy quá trình thay thế amino axit, các nhà nghiên cứu cũng đã thu được những bằng chứng tiến hóa đáng kể ở cấp độ phân tử của quá trình hội tụ và đồng tiến hóa.

Chức năng của protein chuyển hóa ôxi hóa ở động vật có xương sống vẫn còn gây nhiều tranh cãi phần lớn do những khó khăn trong việc thao tác xử lý những protein màng tế bào này trong phòng thí nghiệm. Bằng cách kết hợp phân tích tiến hóa phân tử cùng với dữ liệu cấu trúc của protein, các tác giả của nghiên cứu cho thấy các chức năng quan trọng của protein mã hóa mitochondria (như vận chuyển oxi, electron và proton qua cytochrome C oxidase) về cơ bản đã được biến đổi trong quá trình tiến hóa của loài rắn.

Rắn trước đây từng được cho là sở hữu một hệ thống kiểu mẫu về sinh thái, sinh lý và chuyển hóa nhằm nghiên cứu quá trình tiến hóa. Những kết quả thu được hiện nay đã chứng minh cho ý kiến đó. Loài rắn với vai trò là hệ thống nghiên cứu mẫu nay đã có thể mở rộng khả năng nghiên cứu đến cấp độ phân tử.

Tiến sĩ Todd Castoe – tác giả chính của bài viết – cho biết: “Rắn là nguồn nghiên cứu vô giá đối với các nhà sinh học cấu trúc cũng như các nhà hóa sinh học. Họ có thể sử dụng vốn di truyền tương đối nhằm thiết lập những giả thuyết về COI và chức năng phosphorylation ôxi hóa hay về quá trình biến đổi, tái thiết các chức năng này."

Pollock phát biểu: “Chúng tôi tin rằng kết quả sẽ mang lại một ví dụ khuôn mẫu rõ ràng nhất, ấn tượng nhất về quá trình tiến hóa thích nghi ở một loại protein chuyển hóa trung tâm. Kết quả cũng nhằm nói lên rằng có thể tồn tại mối liên kết giữa thích nghi chức năng sinh lý và thích nghi về mặt phân tử”.

“Bản thảo cũng là một cột mốc quan trọng về tiến hóa phân tử và sự thích nghi của động vật có xương sống, mở ra những hướng đi có cơ sở rõ ràng cho các nghiên cứu về sau. Protein chuyển hóa của rắn làm sáng rõ hiểu biết về sự điều hòa các protein chuyển hóa chức năng quan trọng nhưng khó nắm bắt này."

Trích dẫn: Castoe TA, Jiang ZJ, Gu W, Wang ZO, Pollock DD (2008) – Quá trình tiến hóa thích nghi và tái thiết chức năng của protein chuyển hóa trung tâm ở loài rắn.
PLoS ONE 3(5): e2201. doi:10.1371/journal.pone.0002201

Từ khóa liên quan:
TIN CŨ HƠN
Cận cảnh loài "quái vật nước ngọt lớn nhất hành tinh" ở Amazon

Cận cảnh loài "quái vật nước ngọt lớn nhất hành tinh" ở Amazon

Nhiều người hẳn sẽ ngỡ ngàng trước dáng vẻ khổng lồ đáng sợ của loài "thủy quái" nước ngọt lớn nhất thế giới này.

Đăng ngày: 06/05/2026
11 loại chim đẹp nhất hành tinh

11 loại chim đẹp nhất hành tinh

Chim là loài duy nhất có lông vũ, và tuyệt đại đa số loài lông vũ đều biết bay. Đó là đặc điểm để phân biệt chim với các loài khác

Đăng ngày: 05/05/2026
10 loài thủy quái của sông Amazon

10 loài thủy quái của sông Amazon

Cá Pacu là loài sinh vật có hàm răng giống người. Không giống những loài sinh vật trong danh sách, cá Pacu là cá ăn tạp, thức ăn yêu thích là hoa quả và các loại hạt.

Đăng ngày: 04/05/2026
Rắn độc bị mất đầu vẫn tự cắn chính mình

Rắn độc bị mất đầu vẫn tự cắn chính mình

Thông thường, một con rắn bị chặt đầu thì các chức năng trên cơ thể nó cơ bản đã ngừng hoạt động nhưng nó vẫn còn một số phản xạ. Điều đó có nghĩa rằng rắn vẫn có khả năng cắn và tiêm nọc độc ngay khi đầu nó đứt lìa khỏi thân.

Đăng ngày: 01/05/2026
Loài chim 'lăng nhăng' nhất hành tinh

Loài chim 'lăng nhăng' nhất hành tinh

Các nhà khoa học khẳng định chim sẻ sống ở vùng đầm lầy mặn tại Mỹ là loài có hành vi giao phối bừa bãi nhất trong thế giới chim.

Đăng ngày: 25/04/2026
Những cặp mắt dị thường của động vật (II)

Những cặp mắt dị thường của động vật (II)

Những tổ chức sinh vật khác nhau tiến hóa để quan sát thế giới theo cách khác nhau, với cấu tạo mắt tối ưu hóa cho các kiểu tồn tại đa dạng.

Đăng ngày: 05/04/2026
Những cặp mắt dị thường nhất của động vật (I)

Những cặp mắt dị thường nhất của động vật (I)

Theo các nhà khoa học, mắt của động vật tiến hóa cách đây khoảng 540 triệu năm như là cơ quan phát hiện ánh sáng giản đơn.

Đăng ngày: 05/04/2026
Khoa Học News